Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng về 1000 năm Thăng Long. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng về 1000 năm Thăng Long. Hiển thị tất cả bài đăng

HÀ NỘI TRONG TÔI







Kể từ năm 1992 đến nay, thấm thoát đã 18 năm tôi xa Hà Nội để vào TpHCM công tác cho đến khi về hưu năm 1998. Trong quãng thời gian trên tôi đã tranh thủ nhiều lần ra thăm HN nhất là khi Các Cụ thân sinh hai bên nội ngoại còn sống, sau khi Các Cụ qui tiên việc ra HN tuy có ít hơn, nhất là sau khi về hưu, nhưng tôi vẫn cố gắng tranh thủ ra HN khi có dịp thuận tiện hay có những sự kiện lớn trong gia đình hay chi họ. Từ khi sinh ra ở HN năm 1938 tôi đã có 54 năm sống ở Thủ Đô, đã chứng kiến sự thay đổi của HN qua nhiều giai đoạn:
HN thời Pháp thuộc, HN khi khởi nghĩa CMT8, HN bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp và bị tạm chiếm, HN được giải phóng, HN trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, HN sau khi miền nam được giải phóng, HN những ngày bao cấp, HN ngày đất nước mở cửa.và hội nhập với thế giới, rất nhiều kỷ niệm và ấn tượng còn đọng lại trong tôi, mà biểu hiện sâu sắc là :

- Thời thơ ấu cảm thấy HN xưa rất đẹp một cách bình dị, môi trường trong lành, phố xa vắng vẻ vì dân cư còn thưa thớt, những lễ nghi và phong tục truyền thống khá hấp dẫn, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu….

- Những năm 1945 tuy mới lớn nhưng đã chứng kiến người chết đói từ các tỉnh về HN khá nhiều, mà đến nay chỉ có những bức ảnh giá trị của cố nhiếp ảnh gia Võ An Ninh mới lột tả hết được sự khủng khiếp và tang thương của đồng bào ở miền quê lúc đó.

- HN những năm đầu tiên của CM Tháng 8 như thay da đổi thịt với khí thế hừng hực chào đón thời kỳ mới của đất nước, từ già đến trẻ ai ai củng hồ hởi tham gia các phong trào hay hoạt động tập thể một cách phấn khởi và tự giác, chứ không phải thụ động và tốn kém vận động như ngày nay. Cùng theo dòng người của thủ đô tôi đã vinh dự được tham dự mít tinh tại nhà hát lớn HN ngày 17/8/1945 và Lễ Tuyên Ngôn Độc lập 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử.

- HN những ngày bước vào kháng chiến chống Pháp có những tiếc nuốc phải tiêu thổ nhà cửa, phố xá để phục vụ chiến đấu và phải rời xa đô thị nơi chôn rau cắt rốn tản cư về các vùng quê xa xôi.

- HN những năm 1954 cũng hừng hực khí thế mới vào những năm đầu giải phóng, sau trải qua cải tạo tư sản, cải cách ruộng đất …với những sai lầm thời đó không ít thì nhiều cũng tác động đến tâm tư và tình cảm của nhưng người dân Thủ Đô, may mà những vấn nạn phải giải quyết không quá nặng nề và dân số cả nước tôi còn nhớ năm 1954 chỉ có 24 triệu người.

- HN những năm xây dựng của thời kỳ đầu bao cấp đã có nhiều đổi mới như nhiều chung cư đã mọc lên : Kim Liên, Trung Tự v.v, nhiều nhà máy công nghiệp nhẹ ra đời : nhà máy cao su Sao vàng, nhà máy bóng đèn phích nước Rạng đông với công nghệ nhập từ TQ…, nhiều của hàng Mậu dịch quốc Doanh nhưng các mặt hàng còn khan hiếm, bán hàng theo sổ hay tem phiếu phân phối. Tôi cùng gia đình đã trải qua những năm tháng khó khăn của thời bao cấp : gạo, thịt, lương thực, thực phẩm,vải vóc,thiết bị gia đình khan hiếm , rồi thiếu điện , thiếu nước v.v. Thời đó ai mua được chiếc xe đạp Thống Nhất là sang lắm rồi….Lúc đó phản ứng của người dân không gay gắt như bây giờ, và các phương tiện truyền thông lại ít đề cập đến những sự việc trong xã hội với phản ứng nhiều chiều như bây giờ.

- HN những năm trải qua hai cuộc chiến ném bom trên không của địch đã có bao nhiêu tổn thất và người chết, vì bom đạn tên lửa , nhất là bom giải thảm của máy bay B52,các cơ quan và dân cư phải sơ tán ra khỏi nội thành…. Nhà nào cũng phải đào hầm trú ẫn trong vườn nhà hay ngoài vỉa hè mặt phố, hay là đi sơ tán hàng tháng về nơi xa.Phương tiện giao thông lúc đó khó khăn và nguy hiểm, vì các bến xe, bến tầu thường xuyên bị oanh tạc, thế mà bà xã mới đẻ xong đã phải đạp xe đạp từ HN lên Yên Bái cách xa hàng trăm cây số để đi làm việc mà cũng may không gặp nguy hiểm gì. Việc phải đi nhờ các xe tải liên tỉnh từ xa về HN hay ngược lại là phổ biến, mà vẫn an toàn ít xảy ra những tiêu cực giống như ngày nay. Thời đó mọi người đối với nhau tỉnh cảm hơn bây giờ.Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đã khôi phục lại hòa bình cho HN và cả nước.

- HN những ngày thống nhất 2 miền tràn ngập không khí phấn khởi vì miền Nam được giải phóng.Ai ai cũng náo nức được vô Nam để thăm Tp Sài gòn hiện đại mới được giải phóng, với những tin đồn như xe ôto chạy trên các con đường nhựa hiện đại để cốc nước không đổ, máy bay trực thăng có thể đỗ ngay trên đường…..Nhà nào nhà ấy cũng sắm dàn nhạc Akai, hay xe Honda sản xuất từ Nhật, nhưng hầu hết đã cũ….Năm 1977 tôi dẫn đoàn chuyên gia Liên Xô đi công tác miền Nam, được đi máy bay lần đầu tiên trong đời trên máy bay TU – 118 đã thấy rất khang trang hiện đại, ở KS Caravell – SG sang trọng, rồi những chuyến công tác sau này đến Nha Trang bằng ôto thấy nhà cửa ở đây to lớn hơn HN, được tắm biển ở các bãi biển Khánh Hòa hay Vũng Tầu thấy rộng rãi và sạch hơn Đồ Sơn, Sầm Sơn ở miền Bắc……Ai ai cũng hy vọng đất nước sẽ phát triển nhanh và mạnh, sau khi miền nam được giải phóng …..?

- HN những ngày đầu mở cửa, trên đường phố đã gặp khá nhiều người nước ngoài, hồi đó ai cũng có thể đi du lịch Thái Lan - để xem cửa ngõ đầu tiên và gần VN - đặc trưng của nền kinh tế Tây Phương. Khoảng những năm 1990 – 1992 tôi lại được 2 lần từ HN đi dự hội thảo ở Bordeaux - Pháp, transit qua Bangkok, lúc đó thủ tục làm giấy tờ xuất ngoại tuy đã thoáng hơn nhưng vẫn còn tập trung ở Bộ NG và Cơ quan quản lý xuất cảnh, mỗi lần đi trầy trật mới đổi được khoảng 100 USD thế mà ra cửa khẩu vẫn bị…..Lần đầu tiên được sử dụng máy ảnh chụp phim mầu, vì lúc đó ở HN đã xuất hiện nhiều cửa hàng bán phim mầu và rửa ảnh mầu ( tôi nhớ đã đến cửa hàng cùa cháu Việt ở phố Nhà Thờ - con rể bác Thoa - để mua ) Nhiều nhà cao tầng đã xây lên, phố phường đã khang trang hơn, xe máy nhập đủ loại đã chạy kín các nẻo đường, người ở nhiều vùng đất nước đã về HN sinh sống, dân cư THỦ ĐÔ ngày càng đông…

- HN khi chuyển mạnh sang kinh tế thị trường đã có nhiều bản sắc của đất nước trong khí thế xây dựng để phát triển, đáng chú ý nhất là trường Đại Học Bách Khoa HN nơi tôi học từ 1958 – 1962 đã được đầu tư xây dựng lại khang trang và to đẹp hơn. Nhiều công trình khách sạn sang trọng như Caravel, Hilton… đã mọc lên, nhà giam Hỏa Lò cũng được cải tạo thành cao ốc. Nước ngoài đầu tư vào HN ngày càng tăng, tiêu biểu như các công trình của tập doàn Daewo Hàn Quốc. Nhiều đường phố cũ đã được xây dựng lại khang trang hơn, và khá nhiều tuyến đường mới xuất hiện, làm thay đổi diện mạo thủ đô. Nhiều làng ven đô đã nhanh chóng đô thị hóa không còn nhận ra như làng Mọc quê tôi đã thành Khu đô thị Nhân Chính, làng hoa Nhật tân đã thành Khu đô thị cao cấp Ciputra, …Nổi bật nhất hiện nay là khu trung tâm Mỹ Đình với Cung Hội Nghị Quốc Gia, Sân vận Động…Năm 1999, Thủ đô Hà Nội đã được UNESCO phong tặng danh hiệu Thành phố vì Hòa Bình

- Nhớ về HN không thể kể hết những kỷ niệm, mà không rõ vì sao chỉ có những kỷ niệm xa xưa mới còn đọng lại lâu, như những ngày nghỉ đạp xe trên đường Cổ Ngư – Hô Tây thoáng mát, thăm các làng hoa Nghi tàm - Nhật Tân rực rỡ hoa đào vào những ngày cận tết thưởng thức hương vị ấm cúng của mùa Xuân,hay thăm vườn Bách Thảo, chùa Trấn Quốc, đền Quan Thánh …cùng với gia đình những khi rảnh rỗi với niềm vui thích, vì không có cảnh chen chúc. Rồi những đêm giao thừa đi bộ vòng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm đón Tết Nguyên Đán trong tiếng pháo nổ ròn rã. …HN còn là hương vị của bốn mùa trong năm, đó là những ngày ấm áp của mùa xuân, mưa phùn rầm dề vào tháng 3, nóng nực hầm hập rát lưng vào thàng 6 – 7, không khí dễ chịu thoáng mát với phong cảnh đẹp vào mùa thu, ngược lại rét đậm tê tái mặt, mũi,chân, tay vào mùa đông. HN còn là sự thú vị khi thưởng thức những đặc sản của đất Thăng Long như phở bò Bát Đàn, Lý Quốc Sư, chả cá Lã Vọng hàng Cân, cốm Vòng, đậu phụ làng Mơ, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm hồ Tây, bún ốc, bún chả Mai hắc đế, kem Tràng Tiền…, thịt quay và xá xíu dòn và thơm hay tô tào phớ nòng hổi, chè chí mà phù ngọt lịm ở phố hàng Buồm. Nhớ những tiếng rao về đêm khuya của những người bán rong, hay thưởng thức mùi thơm của các loài hoa ( sữa , bàng lang, phượng..) khi đi trên các con đường rộng rãi mà hai bên vỉa hè không bị lấn chiếm………Nhớ những đường phố đẹp nổi tiếng của HN như Tràng Tiền, Tràng Thi, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Trần Hưng Đạo, Thanh Niên, Trần Phú, Bắc Sơn…..

- Tôi biết HN đã 2 lần mở rộng. Lần đầu tiến ngày 21 tháng 12 năm 1978, Quốc hội phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm năm huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đứcthị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng hai huyện của tỉnh Vĩnh PhúMê Linh, Sóc Sơn. Dân số Hà Nội lên tới con số 2,5 triệu người. Bên cạnh lượng dân cư các tỉnh tới định cư ở thành phố, trong khoảng thời gian từ 1977 tới 1984, Hà Nội cũng đưa 12.861 hộ, 21.587 nhân khẩu tới Lâm Đồng theo chính sách xây dựng kinh tế mới. Năm 1991, ranh giới Hà Nội lại được điều chỉnh, trả lại năm huyện và một thị xã đã lấy của Hà Sơn Bình năm 1978 cho Hà Tây và Mê Linh được nhập vào Vĩnh Phú. Hà Nội còn lại bốn quận nội thành và năm huyện ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km².

Ngày 29 tháng 5 năm 2008, với gần 93% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, có hiệu lực từ 1 tháng 8 cùng năm. Theo nghị quyết, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được nhập về Hà Nội. Từ diện tích gần 1.000 km² và dân số khoảng 3,4 triệu người, Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích 3.324,92 km² và dân số 6.232.940 người, nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới. Ngày 11 tháng 12 năm 2008, quận Hà Đông được thành lập từ thành phố Hà Đông trước đây và thành phố Sơn Tây cũng được chuyển thành thị xã Sơn Tây. Việc mở rộng HN , dân cư về sinh sống, làm ăn ngày càng đông, nạn ùn tắc giao thông xảy ra như cơm bữa nghe ra rả trên đài, công tác quản lý thủ đô trở nên hiện đại đã và sẽ khó khăn và phức tạp hơn.

Đại Qui hoạch mở rộng và phát triển dài hạn Hà Nội tới 2030 và tầm nhìn đến 2050 đã được khởi thảo và đang thu thập góp ý của các cơ quan chuyên môn và dân chúng, dự báo đến năm 2020 dân số Hà Nội vào khoảng 7,1 - 7,4 triệu người (hiện nay trên 6,4 triệu người), tỷ lệ đô thị hóa đạt 64%. Đến năm 2030 khoảng 9 - 9,2 triệu người; đến năm 2050 khoảng 10,8 triệu người . Tổng mức đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung cho cả giai đoạn 2010 - 2030 dự trù khoảng 60 tỷ USD (trong đó quá nửa là đầu tư cho giao thông – khoảng 33,3 tỷ USD). Cụ thể, giai đoạn từ nay đến 2020 Hà Nội sẽ đẩy mạnh xây dựng hạ tầng với tổng kinh phí 30,7 tỷ USD (giao thông chiếm 65%); đến năm 2030 kinh phí xây dựng hạ tầng tăng thêm khoảng 28,9 tỷ USD. Đến năm 2050 cần thêm khoảng 29,9 tỷ USD nữa để xây dựng khung hạ tầng kỹ thuật. Nghe nói còn nhiều bất cập về tính khả thi như hướng mở rộng ( bắc,đông bắc hay tây), sự đồng bộ giữa các qui hoạch (cũ và mới), tính hợp lý của các đô thị vệ tinh ( Phúc Yên ngày xưa đã có một thời là đô thị vệ tinh nay bỏ ), trung tâm hành chính cho chính quyền TW và HN, và các tuyến đường trục quan trọng ( trục Hồ Tây-Ba vì)…..Qui hoạch dài hạn quả thự là khó, nếu không khả thi hay chưa khả thi sẽ thành qui hoạch treo khi được phê duyệt thì thiệt hại quả khôn lường…..

Hà nội là nơi tôi sinh ra, lớn lên và trưởng thành, nên có rất nhiều kỷ niệm. Đôi khi những lo toan đời thường làm ta lãng quên HN, những trong " sâu thẳm của tâm hồn “ dù có đi bốn phương trời trong lòng vẫn nhớ về HN . Nỗi nhớ có thể hữu hình và vô hình về những kỷ niệm đối với các vật thể và phi vật thể của HN. Những trăn trở theo rõi thông tin về sự diễn biến trong quá trình phát triển của HN là có thật, tuy không thường xuyên, vì lý do tôi đã ở xa thủ đô hàng ngàn cây số

Mỗi lần có dịp ra HN, rong ruổi trên các nẻo đường, ai ai cũng thấy những đổi thay rõ rệt những vật thể hữu hình trong cuộc sống của thủ đô Hà Nội, giàu mạnh hơn và to lớn hơn, nhưng những vật thể vô hình như “ nếp văn hóa của HN “ còn khó thấy và đã pha tạp nhiều so với ngày xưa. “ Hy vọng rằng trong quá trình phát triển, Hà Nội vẫn giữ được nét hấp dẫn của riêng mình". Đó là lý do cơ bản mà nhiều du khách nước ngoài thích đến và thăm HN hơn TpHCM (Hanoi is city of tourism ), vì HN có nhiều thế mạnh mà các thành phố khác trong nước không có, đó là các vật thể hữu hình : cây xanh nhiều, nhiều hồ lớn, nhiều di tích lịch sử tiêu biểu, có nhiều phố cổ, và những công trình hiện đại tiêu biểu….. vật thể vô hìnhlà phong thái và nếp sống văn hóa đặc thù của người dân thủ đô hòa quyện giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

Giọng ca ấm cúng đầy tình cảm của ca sĩ Ngọc Tân, một người con của Hà Nội (nay đã khuất), cất lên đâu đó bài hát “ Hà Nội và Tôi “ của nhạc sĩ Lê Vinh càng làm sao xuyến những người sinh ra ở HN nay đã đi xa như tôi :

“ Nơi tôi sinh Hà Nội

Ngõ nhỏ phố nhỏ, nhà tôi ở đó….

Phạm Gia








......Một ngày Thu Sài Gòn nhớ về Hà Nội




Hà Nội ngày trở về

Hà Nội ngày trở về
Chúng ta cùng thưởng thức ca khúc hay "Hà Nội Ngày Trở về " của nhạc sĩ Phú Quang do ca sĩ
Trọng Tấn hát



Chào mừng Lễ Khai mạc


Sáng hôm qua 1/10/2010 lễ Khai mạc Đại Lễ 1000 năm đã tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Nhân dịp này Giám Đốc Tổ chức UNESCO đã giao giấy chứng nhận Hoàng Thành Thăng Long là Di sản văn hóa của thế giới. Hà Nội tưng bừng trong ngày đại lễ với 5 sân khấu lớn xung quanh Hồ Gươm biểu diễn nghệ thuật chào mừng Đại lể



( Tham khảo Internet )

Chào mừng Đại Lễ 1000 năm Thăng Long







Chào mừng 10 ngày Kỷ niệm Đại Lễ 1000 năm Thăng Long ( 1/10 - 10/10/2010). Chúc cho Thủ Đô Hà Nội ngày càng cổ kính, hiện đại và phát triển. Chúc mừng các thành viên trong chi họ ở Hà Nội được tận hưởng không khí tưng bừng náo nhiệt và phấn khởi của Thủ Đô trong dịp lễ trọng đại này. Chúng ta tự hào là những người con của Hà Nội thân yêu
.

Blog Gia Đình Cụ Quang

Cảnh đẹp mùa thu Hà Nôi

Cảnh đẹp mùa thu Hà Nôi

Lộc vừng lấm tấm nở bên hồ Gươm, hoa sữa thơm ngào ngạt, hoa hướng dương vàng rực theo những những bánh xe tỏa đi khắp phố..., Hà Nội đang ở thời điểm đẹp nhất của năm.

Hoa lộc vừng nở bên Tháp Rùa, hồ Gươm.
Ánh nắng nhẹ man mát chiếu qua từng kẽ lá.
Từng chùm hoa sữa thơm ngào ngạt.



Các thiếu nữ Hà thành bên nhành liễu rủ mặt Hồ Gươm.


Mùa thu cũng là mùa lá rụng. Con đường Phan Đình Phùng như đẹp hơn sau cơn mưa.
Những con đường thủ đô dường như thơ mộng hơn khi mùa hoa hướng dương lại về.
Cô Liên, làng Tây Tựu cho hay hoa hướng dương được nhiều bạn trẻ mua tặng nhau từ đầu thu.
Nhắc đến mùa thu cũng không thể không nhắc đến cốm Làng Vòng, một đặc sản của mùa thu Hà Nội. Ảnh: Hoàng Hà.
(Theo vnexpress)

Bức ảnh Hà Nội khổng lồ


Với ý tưởng thực hiện một bức ảnh khổng lồ ghép từ 1.000 tấm ảnh chụp Hà Nội nhằm kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội đã được tác giả Dương Vi Khoa ( một chuyên gia tin học) ấp ủ từ lâu . Bức ảnh panorama 6,1 Gigapixels chụp quang cảnh thành phố Hà Nội ra đời đã ngay lập tức khẳng định được giá trị của mình. Bức ảnh Hà Nội ghép từ 1.000 tấm ảnh thực hiện vào dịp cả nước đang chào đón 1.000 năm Thăng Long này cũng được coi là bức ảnh kỹ thuật số chụp phong cảnh Việt Nam lớn nhất hiện nay. Nếu in ra (ở độ phân giải 72dpi), tác phẩm sẽ có diện tích tới hơn 780 m2.Ai muốn xem toàn cảnh bức ảnh này hãy vào trang web : www.hanoi1000.vn

(Theo danviet )

Nhớ về Hà Nội

Nhớ về Hà Nội
Chúng ta cùng nghe ca sĩ Im Tae Kyung ( Hàn Quốc) hát bài " Nhớ về Hà Nội "



( Theo Internet )

Chương trình lễ hội Thăng Long tuổi ngàn năm

Chương trình lễ hội Thăng Long tuổi ngàn năm
CHUƠNG TRÌNH LỄ HỘI MỪNG THĂNG LONG NGÀN NĂM TUỔI
( Tại Hà Nội )

Báo Thể thao & Văn hóa Online xin cung cấp tới quý vị độc giả những thông tin chuẩn xác về
các hoạt động, sự kiện diễn ra trong 10 ngày Đại lễ.
1/ Ngày 01 tháng 10 năm 2010: Ngày khai mạc
- 08h00: Lễ khai mạc 10 ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội và đón nhận bằng công nhận Di sản Văn hóa Thế giới khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long tại Vườn hoa Lý Thái Tổ. \
- 09h30: Biểu diễn nghệ thuật tại 5 sân khấu xung quanh hồ Hoàn Kiếm.
- 14h00: Triển lãm các tác phẩm Văn học- Nghệ thuật qua các thời kỳ tại Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 Hoa Lư, Hai Bà Trưng.
- 15h00: Khai mạc Triển lãm ảnh nghệ thuật Hà Nội tại Vườn hoa Giám, Đống Đa và 45 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm.
- 19h30: Khai mạc Tuần lễ phim lịch sử, cách mạng tại Trung tâm chiếu phim quốc gia, 87 Láng Hạ, Đống Đa.
- 20h00: Khai mạc Triển lãm thành tựu kinh tế- xã hội Việt Nam và Thăng Long- Hà Nội tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam, 148 Giảng Võ, Ba Đình.
- 20h00: Biểu diễn nghệ thuật Đêm Hồ Gươm lung linh và trình diễn áo dài truyền thống tại xung quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm.
- 20h00: Chương trình hòa nhạc Hội nhập Quốc tế- Niềm tin hướng tới tương lai do NSND Đặng Thái Sơn biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội.
2/ Ngày 02 tháng 10 năm 2010 :
- 08h00: Khai mạc trưng bày hiện vật lịch sử 1000 năm Thăng Long- Hà Nội tại Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, số 9 và 18 Hoàng Diệu, Ba Đình.
- 08h00: Khánh thành rạp Công nhân Hà Nội, 42 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm.
- 09h00: Lễ ra mắt Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến tại Thư viện Quốc gia, 31 Tràng Thi, Hoàn Kiếm.
- 19h30: Khai mạc Liên hoan Du lịch quốc tế Thăng Long- Hà Nội tại khu du lịch Thiên Đường Bảo Sơn, Hoài Đức.
- 19h30: Lễ hội Rồng do Bộ VHTT&DL và Đại sứ quán Tây Ban Nha phối hợpvới UBND Thành phố Hà Nội tổ chức tại Quảng trường Sân vận động quốc gia Mỹ Đình.
- 20h00: Biểu diễn các ca khúc chọn lọc sáng tác mới chào mừng 1000 năm Thăng Long- Hà Nội tại Nhà hát lớn Hà Nội.
3/ Ngày 03 tháng 10 năm 2010
- 07h00: Giải chạy truyền thống Báo Hà nội mới vì Hòa bình xung quanh hồ Hoàn Kiếm.
- 09h00: Khánh thành tượng đài Bác Hồ và Bác Tôn tại Công viên Thống Nhất.
- 20h00: Chương trình nghệ thuật Thăng Long- Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh tại Vườn hoa Lý Thái Tổ
4/ Ngày 04 tháng 10 năm 2010
- 08h30: Tổng kết và trao giải Cuộc thi tìm hiểu Thăng Long- Hà Nội nghìn năm Văn hiến và Anh hùng tại Nhà hát lớn Hà Nội.
- 09h00: Khánh thành Cung Trí thức thành phố tại Cầu Giấy.
- 15h00: Khai mạc Triển lãm Anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa Việt Nam tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, 25 Tông Đản, Hoàn Kiếm.
- 15h30: Khai mạc Triển lãm các trận đánh và chiến dịch nổi tiếng trong lịch sửquân sự Việt Nam tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, 28A, Điện Biên Phủ, Ba Đình.
- 17h00: Khai mạc Triển lãm và Liên hoan Thư pháp Thăng Long- Hà Nội tại -Văn Miếu- Quốc Tử Giám. 20h00: Trao Giải Báo chí toàn quốc về 1000 năm Thăng Long- Hà Nội tại Trung tâm nghệ thuật Âu Cơ, số 8 Huỳnh Thúc Kháng, Ba Đình.
- 20h00: Biểu diễn các điệu múa cổ Thăng Long- Hà Nội tại Vườn hoa Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm.
5/ Ngày 05 tháng 10 năm 2010
- 09h00: Khánh thành Tượng đài Thánh Dóng tại khu Đền Sóc, Phù Linh, Sóc Sơn.
- 09h00: Khánh thành đường nối Quốc lộ 3 tới khu công nghiệp Nguyên Khê tại Đông Anh.
- 09h00: Giới thiệu công trình nghệ thuật Con đường gốm sứ ven sông Hồng tại đường Yên Phụ, Ba Đình. 14h00: Khai mạc Triển lãm Nghề gốm Bát Tràng- cổ truyền và hiện đại tại làng Bát Tràng, Gia Lâm.
- 15h00: Biểu diễn võ thuật cổ truyền Hào khí Thăng Long tại Cung thể thao Quần Ngựa, Ba Đình.
- 20h00: Biểu diễn âm nhạc của các nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam tại Nhà hát lớn Hà Nội
. 20h00: Chương trình Văn hóa nghệ thuật Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long tại Vườn hoa Lý Thái Tổ.
6// Ngày 06 tháng 10 năm 2010
- 08h00: Khai mạc Liên hoan nghệ thuật Diều- Hà Nội tại Quảng trường sân vận động Quốc gia Mỹ Đình
- 08h30: Khánh thành Bảo tàng Hà Nội và khai mạc Triển lãm Hà Nội xưa tại đường Phạm Hùng, Từ Liêm.
- 09h00: Khai mạc Triển lãm Những tấm lòng với Thăng Long- Hà Nội tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị.
- 20h00: Chương trình ca nhạc tổng hợp “Hùng khí Thăng Long- Bài ca đất nước” tại Vườn hoa Lý Thái Tổ.
- 20h00: Khai mạc Liên hoan ẩm thực Hà Thành tại Công viên nước Hồ Tây
7/. Ngày 07 tháng 10 năm 2010
- 09h00: Tổng kết và trao giải Cuộc thi quốc tế tìm hiểu “Thăng Long- Hà Nội, điểm hẹn của bạn” tại Nhà hát lớn Hà Nội.
- 14h00: Khai mạc Hội thảo khoa học quốc tế Phát triển bền vững Thủ đô Văn hiến, Anh hùng, vì Hòa bình tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, 11 Lê Hồng Phong, Ba Đình (bế mạc ngày 09/10).
- 20h00: Biểu diễn âm nhạc dân tộc tại Nhà hát lớn Hà Nội.
8/ Ngày 08 tháng 10 năm 2010
- 07h00: Chương trình văn hóa nghệ thuật của Tuổi trẻ Thủ đô và cả nước xung quanh hồ Hoàn Kiếm và các sân khấu ngoài trời trên địa bàn Thành phố.
- 09h00: Khánh thành Công viên Hòa Bình tại Xuân Đỉnh, Từ Liêm.
- 09h00: Khánh thành Trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao Hà Nội tại Mỹ Đình, Từ Liêm
- 20h00: Chương trình giao lưu Thăng Long- Hồn thiêng sông núi với sự tham gia của 1000 Anh hùng và Mẹ Việt Nam Anh hùng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia.
- 20h00: Chương trình Lễ hội đường phố của tuổi trẻ Thủ đô và cả nước tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám.
9/ Ngày 09 tháng 10 năm 2010
- 6h00: Đua xe đạp xuyên Việt quốc tế xung quanh hồ Hoàn Kiếm
- 07h30: Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, UBMTTQ Việt Nam, các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, Thành phố Hà Nội và 62 tỉnh, thành phố vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tượng đài Liệt sỹ.
- 09h00: Động thổ xây dựng Nhà hát Thăng Long tại khu đô thị Tây Hồ Tây, Xuân Đỉnh, Từ Liêm.
- 09h00: Khánh thành rạp Đại Nam tại 29 phố Huế, Hai Bà Trưng.
- 20h00: Biểu diễn của các Đoàn nghệ thuật quốc tế tại các sân khấu ngoài trời trên địa bàn Thành phố.
10/ Ngày 10 tháng 10 năm 2010: Ngày Đại lễ
- 08h00: Lễ mít tinh trọng thể, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình.
- 20h00: Đêm hội Văn hóa Nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình. Ngoài các hoạt động nói trên, trong suốt thời gian diễn ra Đại lễ tại các quận, huyện, thị xã đều sẽ có những hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ quần chúng nhân dân.

Con đường gốm sứ Hà Nội đạt Guiness

Con đường gốm sứ Hà Nội đạt Guiness

Tổ chức Guiness thế giới đã công nhận con đường gốm sứ của Việt Nam là bức tranh gốm dài nhất thế giới. Đây thực sự là niềm vui lớn khi ngày đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội đã cận kề.

Dự án con đường gốm sứ được khởi công năm 2008, có chiều dài gần 4.000m, diện tích khoảng 7.000m2 kéo dài từ cửa khẩu An Dương đến cửa khẩu Vạn Kiếp với nhiều chủ đề khác nhau: Tôn vinh những di sản nghệ thuật truyền thống của cha ông từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn bằng các họa tiết hoa văn của từng thời kỳ; các hoa văn đặc trưng trên thổ cẩm; tranh gốm của các em thiếu nhi Việt Nam và quốc tế…Dưới đây là những hình ảnh được PV laodong.vn ghi lại được vào sáng 10.9. 2010



Một người Hà Nội gốc tiêu biểu





Cụ Đỗ Xuân Hợp ( 1906 - 1985 )

Trong không khí phấn khởi Hướng về 1000 năm Thăng Long chúng ta đều nhớ đến thủ đô Hà Nội thân yêu với bao kỷ niệm ngọt ngào và tình cảm trân trọng. Tôi nhớ đến một trong những người Hà Nội “ gốc “ tiêu biểu đó là “ Bác Hợp” , tức Cụ Đỗ Xuân Hợp, Thiếu tướng Quân Y – QDNDVN , Giáo sư , Bác sỹ y khoa, anh trai ruột của Cụ Đỗ Xuân Dục thân sinh ra bà xã Kim Chi. Cụ Hợp không thuộc dòng họ Phạm, nhưng có lẽ những người lớn tuổi trong chi họ Cụ Quang không ai là không quen biết và đã có nhiều lần gặp gỡ “Bác Hợp” lúc sinh thời, vì Cụ lại là anh họ thân thiết của Cụ Bà Phạm Vĩnh Quang. Nếu vào Google, gõ “ Đỗ Xuân Hợp “ cho ngay 907.000 kết quả bài viết trên mạng về Cụ. Tôi giới thiệu ở đây 3 bài viết ngắn để chi họ chúng ta tham khảo, thấy rõ cái “ tâm của một người trí thức Hà Nội gốc “ và “ thuật sử dụng nhân tài của Bác Hồ “ đối với trí thức nói chung và Cụ Hợp nói riêng

ĐỖ XUÂN HỢP- ÔNG VUA CỦA NGÀNH GIẢI PHẪU HỌC VIỆT NAM

Cho đến nay, không riêng gì các thế hệ sinh viên y khoa mà ngay cả chúng ta cũng đều tự hào khi biết trong bộ sách giá trị Anatomie Topographique của Henri Rouvierè - tập nghiên cứu y học về cánh tay con người có chương viết về cơ ghi rõ muscle Do Xuan Hop và chương về dây thần kinh ghi rõ nerf Do Xuan Hop. Bên cạnh đó tên tuổi và công trình nghiên cứu của ông còn được in trong bộ Encyclopédie medicale Francaise (Bách khoa toàn thư y học Pháp). Vậy Đỗ Xuân Hợp là ai mà khiến y học thế giới phải đề cao và khâm phục như thế?
Ông sinh ngày 8/7/1906 tại Hà Nội - con thứ năm của cụ Đỗ Xuân Đạt - một gia đình nghèo có truyền thống hiếu học và yêu nước. Khi cụ Lương Văn Can cùng những chí sĩ yêu nước lập ra trường Đông Kinh Nghĩa Thục thì cụ Đạt dù không ra dạy, nhưng vẫn bí mật giúp đỡ tài chính cho trường. Ngay từ nhỏ, cụ Đỗ Xuân Hợp đã nổi tiếng là cậu học trò giỏi nhất trường. Sau khi đậu ưu kỳ thi tiểu học thì phần thưởng là những cuốn sách đã được ông chất đầy trong một tủ lớn! Sau này theo học trường Bưởi, ông cũng là học sinh giỏi, chăm chỉ và khiêm tốn giúp bạn học kém hơn mình. Mỗi tháng được nhận học bổng 8 đồng, ông dùng để nuôi hai em tiếp tục ăn học như mình. Sau khi tốt nghiệp trung học với bằng thành chung loại ưu tú, ông theo học trường Cao đẳng y dược Đông Dương. Ông tính toán như vậy vì chỉ sau bốn năm học thì có thể đi làm để giúp đỡ gia đình. Mùa hè năm 1929, Đỗ Xuân Hợp tốt nghiệp ra trường. Lúc này tình yêu đến với ông. Người đó là bà Nguyễn Thị Thịnh - một nữ sinh trường Sư Phạm Hà Nội. Sau này nên duyên nợ thì người vợ đã cùng theo chồng lên đường nhận nhiệm sở. Đỗ Xuân Hợp được phân công về nơi rừng thiêng nước độc ở Bắc Hà (gần Lào Cai)! Nơi đây trong thập niên 30 vẫn còn là nơi "ánh sáng văn minh" chưa rọi tới!........ Cũng trong thời gian này, ông nhận được thông báo: Trường Y khoa Đông Dương đang thi tuyển chọn lấy một trợ lý ngành giải phẫu cho Viện giải phẫu của trường. Thế là với quyết tâm của mình, ông quyết tâm thi. Cuối năm 1932, ông trở về Hà Nội nộp đơn thi và trúng tuyển. Nhờ vậy, ông được chuyển công tác về Hà Nội, phụ việc cho Giáo sư P. Huard - giám đốc của Viện giải phẫu học. Qua năm sau, nhờ có sự chứng nhận và giới thiệu của trường hàm thụ mà vợ chồng được thi tú tài. Cả hai kỳ thi họ đều đậu thủ khoa. Nếu Bác sĩ Hồ Đắc Di là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật tại Pháp thì Đỗ Xuân Hợp là người đầu tiên trợ giảng và hướng dẫn cho sinh viên thực tập trong khoa phẫu thuật của trường Y khoa Đông Dương. Thông qua những kinh nghiệm đã thu thập được sau hơn 10 năm làm công việc này, Đỗ Xuân Hợp đã gây chấn động trong giới y học thời bấy giờ bằng bộ sách Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học và giải phẫu thẩm mỹ) in năm 1942. Với bộ sách này ông đã được Viện Hàn Lâm y học nước Pháp đã tặng giải thưởng Testut vào năm 1949. Ngoài ra ông còn công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác. Có thể nói từ năm 1936 Đỗ Xuân Hợp đã nghiên cứu về bộ xương người Việt Nam hiện đại và một số sọ hoặc bộ xương người Việt Nam thời cổ. Ngoài ra ông còn nghiên cứu cả về não, mạch máu thần kinh và nội tạng v.v... Hầu hết những công trình này đều viết bằng tiếng Pháp. ….. Khi toàn quốc kháng chiến nổ ra tiếng súng hào hiệp và chính nghĩa thì Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp bỏ lại sau lưng căn biệt thự số 69 phố Trần Xuân Soạn (Hà Nội), bỏ lại những tiện nghi vật chất để lên đường tòng quân. Sự cương quyết của ông khi đi theo kháng chiến là việc không phải ai cũng làm được, vì bấy giờ ông đang giảng dạy ở Đại Học Y khoa, lại chữa bệnh ở bệnh viện Phủ Doãn và còn có cả phòng mạch tư ở phố Chợ Hôm. Nhưng theo tiếng gọi của Tổ quốc, vợ chồng ông ra đi nhẹ nhàng và thanh thản. Vào tháng 3/1947 họ ở Việt Trì. Sau khi Pháp tấn công thì phải dắt díu nhau chạy lên Lâu Thượng rồi nửa đêm chạy ngược sông Lô để qua Bình Sơn (Vĩnh Yên). Từ đây, Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được giao nhiệm vụ làm giám đốc Quân y viện Liên khu 10. Vào tháng 3/1949, nhiều chiến dịch lớn đã mở và quân ta đánh thắng giặc Pháp nhiều trận oanh liệt. Để kịp thời đào tạo cán bộ quân y phục vụ chiến trường, Trường Đại học Quân y được thành lập ở cánh rừng Liễn Sơn, xã Hồng Hoa, huyện Tam Dương (Vĩnh Phú). Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp nhận thêm nhiệm vụ giảng dạy cho trường, ngoài ra, ông còn phải dạy ở Đại học y khoa Chiêm Hóa (Tuyên Quang) do Bác sĩ Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Từ năm 1950, ông được chỉ định làm Hiệu trưởng trường Đại học Quân y. Tuy bận nhiều việc nhưng ông không ngừng nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình giảng dạy. …….Trực tiếp mổ xẻ, băng bó, chăm sóc vết thương cho thương bệnh binh từ chiến trường chuyển về, ông nhận thấy vết thương tứ chi bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ lớn, do đó ông đã kịp thời biên soạn quyển Giải phẫu tứ chi và Thực hành y khoa. Tập sách này được xuất bản năm 1952 tại Việt Bắc - nó không chỉ là tài liệu chính giảng dạy trong nhà trường mà còn là cẩm nang quý báu cho cán bộ quân y tham khảo để phục vụ thương binh ngay tại chiến trường. Với tác phẩm này, ông được Bác Hồ gửi thư khen ngợi và Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Từ sự khích lệ này, trong suốt 20 năm (1952-1971) ông đã dành hết tâm lực để hoàn thành bộ sách nghiên cứu về giải phẫu học gồm nhiều tập, với 2000 trang, 900 hình vẽ minh họa có giá trị lâu bền như Giải phẫu bụng, Giải phẫu ngực... đã được Nhà xuất bản y học tái bản nhiều lần. Ngoài ra còn có thể kể đến những tác phẩm y học ông viết trong thời gian chống Pháp như Triệu chứng học, Dược học, Thực hành bệnh viện... Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu, cùng với đoàn quân chiến thắng, gia đình Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp trở về Hà Nội. Về lại thủ đô, với chức Hiệu trưởng Viện Đại học Quân y, ông góp tay vào việc xây dựng nền y học nước nhà. Là một nhà khoa học, một người thầy thuốc, Ông đã hết lòng, hết sức đem hết khả năng và kinh nghiệm của mình để cứu chữa cho thương bệnh binh, luôn luôn thể hiện tốt lời dạy của Hồ Chủ Tịch: "Người thầy thuốc giỏi phải đồng thời như mẹ hiền". Ông mất năm 1985 tại Hà Nội. Với những đóng góp của mình, Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được Nhà nước và quân đội trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1)... Nhưng có lẽ phần thưởng cao quý nhất đối với ông là ông đã tự nguyện sống trọn vẹn cả cuộc đời cho công việc phụng sự y học với tư tưởng "cứu nhân độ thế" mà Thánh y Lê Hữu Trác đã dạy.
Lê Minh Quốc
( www.hmu.edu.vn )



Bác Hợp trong kháng chiến ( thứ ba từ trái sang )


Thiếu tướng, Giáo sư Đỗ Xuân Hợp - Một người con Hà Nội

Hà Nội Mới - 08/12/2005
Năm 1949, Viện Hàn lâm y học quốc gia Pháp đã quyết định trao giải Tes Tut cho cuốn sách Hình thái học người và giải phẫu mỹ thuật do giáo sư Đỗ Xuân Hợp viết chung với giáo sư Pierre Huard, một công trình nghiên cứu công phu, một bộ sưu tập phong phú làm nền cho nhiều ngành khoa học: y học, khảo cổ, nhân chủng và cả mỹ thuật... Tác phẩm gây tiếng vang trong giới y học Việt Nam và Pháp, sách gối đầu giường của các nhà nghiên cứu, các thầy giáo, sinh viên các trường đại học. ở nước ta, giáo sư Đỗ Xuân Hợp lần đầu tiên được nhận giải Tes Tut, cho đến ba mươi năm sau, năm 1980 giáo sư Tôn Thất Tùng là người thứ hai và là người thứ mười trên thế giới được nhận giải này. Trong thời thuộc Pháp, nước ta không có tên trên bản đồ thế giới, người Pháp coi người Việt Nam là dân Anamít hèn hạ thế mà Viện Hàn lâm y học Pháp phải thừa nhận tài năng xuất sắc của giáo sư Đỗ Xuân Hợp. Tên tuổi của một người Việt Nam - Giáo sư Đỗ Xuân Hợp được đặt ngang tên một người Pháp - giáo sư Pierre Huard trên bìa sách được giải thưởng khoa học của nhà nước Pháp. Một trợ lý giải phẫu người Việt, khi viết chung cuốn sách ấy mới có bằng Y sĩ - Đỗ Xuân Hợp đủ tài năng hợp tác với thầy giáo người Pháp, Giám đốc Viện Giải phẫu đồng thời là Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội - giáo sư Pierre Huard. Ông đã đem lại vinh quang và niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Nhân cách giáo sư cùng với niềm tự hào dân tộc càng được nhân lên khi giáo sư, tận tâm phục vụ kháng chiến, thiếu thốn đủ điều nhưng lại từ chối việc đến Thủ đô Paris nhận giải thưởng Tes Tut cùng với số tiền thưởng 32.000 USD. Từ một trò nghèo của đất Thăng Long, Đỗ Xuân Hợp tự học tự nghiên cứu trở thành trợ lý giải phẫu cho giám đốc Viện Giải phẫu Hà Nội... Ông cũng đã miệt mài học tập, nghiên cứu, giảng dạy nghiêm túc trong suốt 10 năm (1932 - 1942) để đạt vinh quang trong khoa học: được nhận giải thưởng y học lớn tầm cỡ thế giới. Giải thưởng Hồ Chí Minh Cách mạng tháng Tám thực sự là cuộc hồi sinh kỳ diệu cho toàn dân tộc trong đó có lớp trí thức yêu nước được đào tạo dưới chế độ thực dân.Cách mạng tháng Tám, lãnh tụ Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn, cảm hoá lạ lùng. Được chứng kiến giờ phút thiêng liêng tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, giáo sư Đỗ Xuân Hợp ý thức được con đường đi của mình. Bắt đầu từ việc mở các lớp huấn luyện hồng thập tự cho nữ sinh các trường trung học. Ông được cấp trên tín nhiệm cử làm Chủ tịch uỷ ban hành chính lâm thời khu phố Chợ Hôm, Hà Nội. Đầu năm 1946, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp tình nguyện tham gia quân đội được Cục Quân y đưa lên Việt Trì xây dựng bệnh viện quân y chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến. Trong ba năm đầu của cuộc kháng chiến (1947 - 1949) mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, với cương vị Viện trưởng Viện Quân y liên khu X, bác sĩ Hợp làm được nhiều việc trên cương vị là người tổ chức, lãnh đạo Viện cũng như với tư cách bác sĩ quân y. Đầu năm 1950 ông được điều về làm Trưởng phòng Huấn luyện của Cục Quân y vừa tham gia giảng dạy cho Trường Quân y sĩ và Trường Đại học Y khoa. Sau cách mạng tháng Tám, các trường đại học y khoa đều dùng giáo trình và giảng dạy bằng tiếng Pháp. Bác sĩ Hợp thành lập và trực tiếp chỉ đạo Ban tu thư và ấn loát tài liệu, giáo trình vận động đồng nghiệp tham gia. Ban ngày Đỗ Xuân Hợp làm công tác chuyên môn, tham gia giảng dạy nhưng đêm đêm dưới mái nhà tranh đơn sơ cùng ngọn đèn dầu ông cặm cụi với công việc biên soạn giáo trình tiếng Việt. Sau gần hai năm, mùa thu năm 1951, cuốn sách Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa được Cục Quân y xuất bản. Cuối năm 1952 cuốn thứ hai Giải phẫu bụng và thực dụng ngoại khoa ra đời. Những cuốn sách đầu tiên của nền y học nước ta viết bằng tiếng Việt được gửi lên xin ý kiến Hồ Chủ tịch. Người chỉ định một tiểu ban giám định gồm các bác sĩ nổi tiếng: Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng và Vũ Văn Cẩn. Những nhận xét tốt của tiểu ban cả về nội dung khoa học và giá trị thực tiễn nhanh chóng được báo cáo Bác và Người đã quyết định tặng bác sĩ Đỗ Xuân Hợp Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Tấm Huân chương đầu tiên tự tay Người ký tặng cho một trí thức yêu nước, một vinh dự lớn lao đối với ông cũng là niềm tự hào của những người trí thức Việt Nam đi kháng chiến. Đó là hai trong bốn tập của bộ sách về giải phẫu người mà hai mươi năm sau giáo sư mới có điều kiện để hoàn chỉnh: Giải phẫu đại cương, giải phẫu đầu mặt cổ Giải phẫu thực dụng ngoại khoa tứ chi Giải phẫu ngực và Giải phẫu bụng. Một phần tư thế kỷ trôi qua kể từ ngày bộ sách hoàn chỉnh, hơn mười năm sau khi giáo sư qua đời, bộ sách y học nổi tiếng của ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên cùng với các giáo sư Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng... Thầy thuốc, thầy giáo mẫu mực Cuối năm 1932, y sĩ Đỗ Xuân Hợp được bổ nhiệm Trợ lý giải phẫu ở Viện giải phẫu thuộc trường Đại học Y khoa Đông Dương. Hơn mười năm làm việc chăm chỉ, vừa giúp việc cho Viện trưởng vừa tham gia chữa bệnh tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã hoàn thành chương trình bác sĩ y khoa. Năm 1944, Đỗ Xuân Hợp được công nhận là giảng viên trường Đại học Y khoa Hà Nội. Trong kháng chiến, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được giao nhiều chức vụ quan trọng: Viện trưởng Viện Quân y Liên khu X chỉ đạo các bệnh viện dã chiến tham gia phục vụ nhiều chiến dịch lớn từ Thu đông - 1947, Biên giới, Quang Trung, Trần Hưng Đạo đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đồng thời là hiệu trưởng trường Quân y sĩ. Sau ngày hoà bình, ông vẫn tiếp tục giữ những trọng trách trong ngành: Hiệu trưởng trường sỹ quan quân y nay là Học Viện quân y, Chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu của trường đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1955, ông được Nhà nước phong hàm Giáo sư - giáo sư đầu tiên của ngành y nước ta và là một trong mười hai giáo sư đầu tiên dưới chế độ mới. Người con ưu tú của Hà Nội Giáo sư Đỗ Xuân Hợp sinh ngày 8-7-1906 tại phường Hàng Đào, trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Hà Nội không chỉ là nơi ông sinh ra, lớn lên mà còn gắn liền với mọi mặt hoạt động khoa học, chính trị của giáo sư. Góp phần vào thành công của giáo sư không thể không nói đến người vợ hiền thục của ông cũng là một người Hà Nội - bà Nguyễn Thị Thịnh, nữ sinh trường Đồng Khánh hồi bấy giờ. Bà là người vợ hết lòng vì sự nghiệp của chồng, là chỗ dựa vững chắc cho giáo sư trong cuộc sống cũng như trong công tác của ông. Tuần trăng mật qua nhanh, bà quyết định nghỉ dạy học theo chồng lên vùng cao heo hút. Để khuyến khích chồng học tập, bà đã cùng ông đăng ký học bằng cách gửi thư tại trường Đại học tổng hợp Paris, Pháp. Hai ông bà kiên trì học tập và đã tốt nghiệp vào năm 1933. Cách mạng tháng Tám thành công, bà hăng hái hoạt động trong Hội cứu đói, là một trong những người đầu tiên sáng lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam vào năm 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự, bà là Hội phó. Cũng như giáo sư, những lần được gặp Bác là những kỷ niệm đẹp không bao giờ phai mờ. Bác coi vợ chồng giáo sư như người trong gia đình, đến bây giờ những chiếc kẹo Bác cho bà còn nhớ: Vào mùa xuân 1946, trong dịp Bác Hồ đi thăm hỏi đồng bào Nam Định, Thái Bình đang đắp đê chống lụt bão, trong lúc nghỉ tạm bên đường gần thị xã Nam Định chờ các xe sau, Bác ân cần hỏi thăm hoàn cảnh riêng của bác sĩ. Bác hỏi về các cụ thân sinh, về các con và những người trong gia đình. Bác lắng nghe bác sĩ thưa, rồi cười vui và bảo: - Có khó khăn gì về công tác chú thím cứ báo cáo Bác nhé. Bác lấy một gói kẹo trao cho bác sĩ Hợp, trong gói kẹo có tám cái và dặn: Bốn cụ bốn cái, thím một cái và ba cháu ba cái nhé. Bác sĩ Hợp đón nhận và vô cùng cảm động vì một cử chỉ thật ân cần của vị Chủ tịch nước.... Trong những năm kháng chiến gian khổ, người thiếu nữ khuê các đất Hà thành lên chiến khu, vẫn luôn bên chồng chăm sóc, giúp ông vượt qua mọi khó khăn để toàn tâm, toàn ý phục vụ kháng chiến. Những điều bà kể mộc mạc nhưng người nghe không khỏi ngạc nhiên, cảm phục. Không chỉ là tình cảm vợ chồng thông thường, hơn thế nữa bà là một tâm hồn lớn có khả năng đồng điệu về tư tưởng, tình cảm với ông - một tình yêu bao la, sự hy sinh tận tuỵ chăm sóc giáo sư để ông dành tâm lực cống hiến được nhiều nhất cho nhân dân, cho Tổ quốc. Thành phố Hồ Chí Minh có một đường phố mang tên Ông. Mai này, Hà Nội không chỉ có tên phố mà còn có Bảo tàng danh nhân Đỗ Xuân Hợp - Thiếu tướng, Giáo sư người con ưu tú của Hà Nội, một trí thức lớn, suốt đời tận tâm, tận lực với khoa học phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.

(http://yhocquany.com)


Gặp lại gia đình sau khi Thủ Đô Giải Phóng năm 195595 Lò Đúc HN


GS Đỗ Xuân Hợp, vị tướng quân y ngoài Đảng

16/07/2010

Là nhà giải phẫu học nổi tiếng, quyết rời bỏ “Hà Nội vàng son” lên rừng tham gia kháng chiến, ông trở thành vị tướng không phải đảng viên cộng sản. Được tặng giải thưởng lớn nhất ngành giải phẫu học thế giới Năm 1932, vừa tròn 26 tuổi, BS Đỗ Xuân Hợp trở thành trợ lý giảng dạy ở Bộ môn Giải phẫu học Đại học Y Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của GS Pierre Huard, Giám đốc Viện Giải phẫu, Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội. Sau 10 năm giảng dạy và miệt mài nghiên cứu, BS Hợp đã thu thập được một khối lượng lớn những tư liệu quý về giải phẫu hình thái và nhân chủng của các dân tộc trên đất nước Việt Nam cũng như trong toàn cõi Đông Dương. Mùa xuân năm 1942, cùng thầy mình là Pierre Huard, ông cho xuất bản cuốn sách tiếng Pháp Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học nhân thể và giải phẫu học nghệ thuật). Đó quả là một bộ sưu tập phong phú, một công trình nghiên cứu nghiêm túc, làm cơ sở cho nhiều ngành khoa học như: y học, nhân chủng học, dân tộc học, khảo cổ học, mỹ học... Vừa ra mắt bạn đọc, cuốn sách đã gây tiếng vang trên diễn đàn y học Pháp và Việt Nam. Ngoài việc dạy tại Đại học Y Hà Nội, BS Hợp còn được mời giảng bài về giải phẫu học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông là một trong những người được chế độ thuộc địa trả lương cao nhất Đông Dương; mỗi tháng lương có thể mua được 1.200 tạ gạo! Ông cũng sở hữu một số toà nhà ở Hà Nội vào loại sang trọng lúc bấy giờ… Bảy năm sau, ngày 13/12/1949, Viện Hàn lâm Y học Quốc gia Pháp quyết định tặng hai tác giả Pierre Huard và Đỗ Xuân Hợp Giải thưởng Testut, giải thưởng lớn nhất trong ngành giải phẫu học thế giới thời ấy. Không quay về Hà Nội nhận giải thưởng Testut mà rong ruổi trên những nẻo đường Việt Bắc Thế nhưng, chính vào lúc Viện Hàn lâm nổi tiếng này quyết định tặng ông Giải thưởng Testut, thì GS Đỗ Xuân Hợp cùng nhiều nhà y học Việt Nam nổi tiếng khác như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Tích Trí, Trần Hữu Tước, Đặng Vũ Hỷ, Vũ Đình Tụng… theo Lời kêu gọi kháng chiến toàn quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã dũng cảm giã từ “Hà Nội vàng son”, rong ruổi trên những nẻo đường kháng chiến. Từ Nhật Bản, GS Đặng Văn Ngữ cũng đã trở về Thái Lan, rồi băng qua rừng Lào, đến vùng Ngòi Quẵng, Chiêm Hoá, Tuyên Quang, tham gia xây dựng Đại học Y kháng chiến do GS Hồ Đắc Di làm Hiệu trưởng, GS Tôn Thất Tùng làm Giám đốc Bệnh viện thực hành của trường. Cả một thế hệ những người thầy thuốc lừng danh, những bậc trí giả hàng đầu đất nước, với tình cảm cách mạng sục sôi, tự nguyện rời bỏ cuộc sống “ô-tô, nhà lầu”, vui lòng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với đồng bào nghèo khó, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh. Cuộc đời họ quả là những tấm gương trong sáng tuyệt vời đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Lòng yêu nước sâu lắng của họ đáng được đời đời khắc tạc trên bảng vàng, bia đá… Là chuyên gia giải phẫu học nổi tiếng ở Đông Dương và cả ở Pháp, nhưng BS Đỗ Xuân Hợp không nề hà nhận bất cứ việc gì mà kháng chiến đòi hỏi, từ cấp cứu chiến thương, điều trị thương binh, bệnh binh, phụ trách bệnh viện, đến tổ chức đào tạo cán bộ y tế sơ cấp, trung cấp cho quân đội... Chiến trường càng mở rộng, yêu cầu càng nhiều cán bộ quân y. Trong điều kiện vô cùng gian khổ ở chiến khu, làm thế nào vừa đào tạo được những cán bộ y tế vừa đạt chất lượng chuyên môn, vừa đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng của các đơn vị quân đội? Đó là điều lo lắng ngày đêm của GS Hợp và đồng nghiệp. GS Đỗ Xuân Hợp, vị tướng quân y ngoài Đảng. Nhớ lại những năm trước kia theo học Trường Y và âm thầm tự học thêm, ông thấy rõ nỗi vất vả do thiếu sách và tạp chí chuyên ngành để tham khảo. Nhưng, dù sao lúc đó còn ở giữa lòng Hà Nội, sẵn tủ sách gia đình và thư viện, lại nhờ sử dụng thành thạo tiếng Pháp, nên ông dễ tìm ra tài liệu để đọc, để học. Chứ lúc này đây, trong lửa đạn hiểm nguy, giữa rừng sâu bản vắng, hơn nữa các học viên lại có trình độ tiếng Pháp không đồng đều, thì biết xoay xở sao đây? GS Hợp nhận thấy chỉ có cách biên soạn càng nhanh càng tốt những bài giảng bằng tiếng nước mình. Ông phải bỏ ra biết bao công sức để đọc sách tiếng Pháp, chọn từ ngữ nào trong tiếng Việt để dịch cho chính xác, dễ hiểu, rồi soạn bài giảng bằng tiếng Việt sao cho thật gọn, thật rõ. Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn còn xúc động khi ngồi đọc lại những dòng hồi ức chân thành của Giáo sư: “Có những đêm không sao chợp mắt, một mình bên ngọn đèn khuya leo lét trong gian nhà nhỏ giữa rừng sâu, tôi suy nghĩ cố tìm một từ để dịch cho chính xác, dễ hiểu...”. Từ "cẩm nang" mổ xẻ cấp cứu chiến thương đến giáo trình giải phẫu học hoàn chỉnh Cuộc kháng chiến ngày càng gay go, quyết liệt. Thương binh ngày càng nhiều. Qua khảo sát, GS Hợp nhận thấy: Vết thương ở chân, tay bao giờ cũng chiếm tỷ lệ lớn. Từ các bài giảng ông dần dần tập hợp lại, soạn thành cuốn Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa in năm 1952 ở chiến khu Việt Bắc. Tập sách không chỉ là tài liệu chính để giảng dạy trong nhà trường, mà còn là cuốn “cẩm nang” để các cán bộ quân y ở các đơn vị tham khảo khi phải mổ xẻ cấp cứu thương binh ngay tại chiến trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen. Chính phủ ta tặng GS Hợp Huân chương Kháng chiến. Trong 20 năm (1952-1971), GS Đỗ Xuân Hợp mới biên soạn xong cả bộ sách giáo khoa giải phẫu học hoàn chỉnh, gồm nhiều tập, với gần 1.500 trang và hơn 900 minh họa. Với cuốn sách y khoa đầu tiên bằng tiếng Việt được in ở Việt Bắc năm 1952, GS Đỗ Xuân Hợp được coi là một trong những người lập công đầu đưa tiếng mẹ đẻ vào giảng dạy ở bậc đại học. Ông đã làm một khối lượng công việc khổng lồ: dịch sang tiếng Việt hàng chục nghìn từ về y học và giải phẫu học, chính xác và sáng tạo, góp phần làm giàu tiếng Việt ta, tránh lạm dụng các từ gốc Hán. Nội dung cuốn sách quả đã đạt được mục tiêu do ông tự đề ra: “Học giải phẫu cốt để biết mổ xẻ và hiểu bệnh lý; giải phẫu phải kết hợp với thực dụng nội, ngoại khoa; cho nên bộ sách này được trình bày theo một quan điểm khác với các cuốn sách giáo khoa trước đây về giải phẫu học; bộ sách vừa có phần mô tả, vừa có phần tổng hợp định khu và phần hướng dẫn mổ xẻ (...). Như vậy người học không bị sa lầy trong các chi tiết giải phẫu học đơn thuần, và sẽ nhớ được những điều căn bản cần cho công tác.” Bộ sách được Nhà xuất bản Y Học in đi in lại nhiều lần, tổng cộng gần 20 nghìn bản. Mỗi lần in lại, GS Hợp đều cẩn thận sửa chữa, bổ sung các số liệu mới và đặc điểm giải phẫu học của cơ thể người Việt Nam, đặc biệt là những kinh nghiệm mổ xẻ mà ông và đồng nghiệp mới đúc kết được qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong bộ sách ấy, ngoài những tài liệu kinh điển rút ra từ các tài liệu giải phẫu học nước ngoài, ông còn bổ sung những đặc điểm hình thái học của người Việt Nam do chính ông sưu tầm và công bố. Ngoài ra, ông còn nêu lên những điều chỉ dẫn về mổ xẻ, về khám bệnh dựa trên các chi tiết giải phẫu học được trình bày. Cách biên soạn ấy rất phù hợp với yêu cầu đào tạo cán bộ y tế ở nước ta. Vị Thiếu tướng không phải đảng viên cộng sản Trong suốt cuộc đời mình (1906-1985), GS Đỗ Xuân Hợp là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 100 công trình nghiên cứu và gần 20 cuốn sách chuyên khảo về các lĩnh vực giải phẫu học ngoại khoa, nhân chủng học, khảo cổ học, mỹ học rất có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Nhưng có lẽ bộ sách giải phẫu học gồm bốn tập (Giải phẫu học đại cương và giải phẫu đầu - mặt - cổ, Giải và thực dụng ngoại khoa chi trên và chi dưới, Giải phẫu ngực, và Giải phẫu bụng) vẫn là bộ sách lớn nhất của cả đời ông. Gần bốn thập niên đã trôi qua kể từ khi ông hoàn thành tập cuối cùng của bộ sách ấy (năm 1971), ở nước ta đã xuất hiện thêm nhiều cuốn sách giải phẫu học khác viết bằng tiếng Việt, nhưng có lẽ chưa có cuốn nào vượt được bộ sách của GS Đỗ Xuân Hợp về khối lượng, chất lượng bản thảo cũng như về số lượng bản in. GS Đỗ Xuân Hợp, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng Xã hội Việt Nam, có lẽ là người duy nhất không phải đảng viên cộng sản mà lại được Nhà nước ta phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân. Ông cũng được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Trong nhiều thập niên, ông giữ chức Giám đốc Học viện Quân y. Trong gần mười năm làm Phó Tổng Biên tập, rồi Tổng Biên tập tạp chí Tổ Quốc, cơ quan trung ương Đảng Xã hội Việt Nam (một chính đảng cách mạng do Bác Hồ giúp thành lập vào năm 1946, rồi kết thúc hoạt động năm 1988), tôi may mắn có mối quan hệ mật thiết với GS Hợp, bởi vì ông là Uỷ viên Thường vụ Trung ương của đảng này, và là một cộng tác viên của tạp chí. Ông để lại trong tôi những ấn tượng hết sức tốt đẹp về một người trí thức khiêm tốn, kiệm lời, biết mười chỉ nói một. Ông và gia đình ông sống thanh đạm như bao cán bộ bình thường. Mấy ngôi nhà ông tại Hà Nội đã hiến cho Chính phủ. Một cuộc đời bình dị! Một nhân cách cao quý! Không bao giờ ông nói tới “công trạng lẫy lừng” của mình. GS Hợp qua đời cách đây hơn hai thập niên. Nhưng trước tác khoa học của ông vẫn được xã hội trân trọng, trí tuệ và đức độ của ông vẫn soi đường và cảm hoá nhiều thế hệ thầy thuốc hậu sinh. Ông đã được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Hàm Châu
(http://bee.net.vn/channel)



Chụp với Bác Hợp năm 1971 tại Budapest khi Đoàn Đại Biểu Quốc Hội VN sang thăm Hungary

Đường Đỗ Xuân Hợp tại Quận 9, TpHCM

Hà Nội chuẩn bị đại lễ

Hà Nội chuẩn bị đại lễ

Đại lễ dự kiến kéo dài 10 ngày, từ sáng 1/10/2010 được tổ chức tại Vườn hoa Lý Thái Tổ - Quận Hoàn Kiếm; có mít tinh và diễu binh, kết thúc tổi 10/10/2010 với đêm hội văn hóa nghệ thuật chào mừng 1.000 năm Thăng Long tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình.Về các dự án thuộc danh mục công trình chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, trong nhóm 34 công trình phải hoàn thành, có 8 công trình đã đưa vào sử dụng, 18 công trình sẽ hoàn thành trước đại lễ, 7 công trình sẽ cơ bản hoàn thành trong năm 2010, một công trình chỉ có khả năng hoàn thành sau lễ kỷ niệm do vướng mắc giải phóng mặt bằng (đường Nguyễn Phong Sắc kéo dài).


Những ngày qua một số tuyến đường đã thực hiện “ ngầm hóa mạng điện “ nên trông quang cảnh rất thông thoáng và đẹp.








( Theo Internet )