Cặp vợ chồng gây chú ý đặc biệt khi đạp xe từ Pháp về Việt Nam

Cặp vợ chồng gây chú ý đặc biệt khi đạp xe từ Pháp về Việt Nam

 Đạp xe 16.000 km từ Pháp về Việt Nam, Thibault và Khánh Nguyên đã biến tuần trăng mật thành hành trình thiện nguyện với điểm nhấn là những kỷ niệm đa văn hóa ở Iran, Ấn Độ, Pháp...

dap xe anh 1

Năm 2020, Thibault Clemenceau và Trần Nguyễn Khánh Nguyên đạp xe 16.000 km từ Pháp về Việt Nam để gây quỹ cho trẻ em nghèo ở quận 12 (cũ) của TP.HCM. Ảnh: Nón Lá Project.

Giữa những cung đường gió ngược ở châu Âu, các trạm biên phòng xa lạ hay đám đông ồn ào tại Nam Á, Thibault và Khánh Nguyên thường đạp xe cách nhau vài mét. Suốt hành trình 16.000 km xuyên 18 quốc gia, cặp Việt - Pháp không chỉ đối mặt thử thách thể lực mà còn nhiều lần rơi vào cảm giác lạc lõng giữa những nền văn hóa hoàn toàn khác biệt, ngay cả khi luôn có người bạn đời bên cạnh.

Nhân dịp ra mắt tác phẩm Từ nhà anh về nhà em - Hành trình 16.000 km đạp xe xuyên Âu - Á của cặp đôi Pháp - Việt, nhà văn Thibault Clemenceau chia sẻ với Tri Thức - Znews về lý do vẫn giữ cho bản thân được "cô đơn" và những trải nghiệm đa văn hóa cùng người vợ Khánh Nguyên.

Chiếc nón lá trên hành trình xuyên lục địa

Năm 2018, ngay sau đám cưới, Thibault Clemenceau và vợ - Trần Nguyễn Khánh Nguyên - bắt đầu chuyến đạp xe xuyên lục địa từ Pháp về Việt Nam. Hành trình mang tên “Nón Lá Project”, lấy cảm hứng từ hai chiếc nón lá luôn được cặp vợ chồng buộc phía sau xe trong suốt chuyến đi. Với mỗi km đạp được, cả hai kêu gọi quyên góp 1 USD để hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở TP.HCM. Mục tiêu họ đặt ra là hoàn thành 16.000 km, tương ứng 16.000 USD gây quỹ sau gần một năm rong ruổi qua hàng chục quốc gia.

Với họ, hành trình này là một chuỗi trải nghiệm, liên tục học cách thích nghi với những nền văn hóa xa lạ. Mỗi lần bước qua một biên giới mới, những kinh nghiệm cũ gần như không còn tác dụng. Từ cách ăn mặc, giao tiếp đến ứng xử nơi công cộng, mọi thứ thay đổi theo từng quốc gia.

“Rất kỳ lạ, mỗi lần bước qua một biên giới mới, mọi thứ gần như quay về con số không. Chúng tôi phải học lại và làm quen lại từ đầu. Nếu mang kinh nghiệm ở quốc gia trước áp dụng sang quốc gia khác thì nhiều khi không phù hợp”, Thibault chia sẻ.

Một trong những cú sốc văn hóa đầu tiên của anh là tại Azerbaijan (một quốc gia Tây Á). Trong lúc đạp xe giữa trời nắng nóng, Thibault bất ngờ bị người dân địa phương nhắc nhở vì mặc quần đùi. Với đàn ông ở đây, đó là trang phục thiếu lịch sự nơi công cộng. Anh lập tức thay quần dài để tiếp tục hành trình dù thời tiết khắc nghiệt.

Sang Iran, Khánh Nguyên phải làm quen với những quy tắc về trang phục. Cô phải trùm khăn hijab, mặc áo dài quá hông theo luật Hồi giáo. Tuy nhiên, điều khiến họ nhớ nhất ở đất nước này là sự hiếu khách của người dân. Theo Thibault, trong văn hóa Ba Tư, khách lạ được xem như “người bạn của Chúa”. Vì vậy, suốt nhiều tuần đi qua đất nước này, gần như tối nào họ cũng được mời về nhà ăn cơm hoặc ngủ lại.

“Trong văn hóa Ba Tư, những người bạn mới mang điều lành đến cho gia đình. Họ lúc nào cũng đón tiếp chúng tôi rất nồng hậu. Có những hôm chúng tôi được tiếp đãi như hoàng tử và công chúa”, anh kể.

Không chỉ ở Iran, những trải nghiệm đời thường dọc đường cũng khiến cả hai nhìn thấy sự đa dạng của thế giới theo cách trực tiếp nhất. Có nơi người dân sẵn sàng trải thảm picnic bên đường rồi mời hai người lạ cùng ăn uống. Có nơi họ trở thành tâm điểm chú ý chỉ vì đội nón lá Việt Nam giữa phố. Theo Thibault, hai chiếc nón lá mang từ Việt Nam đi xuyên châu Âu và châu Á đã vô tình trở thành “cầu nối văn hóa” hiệu quả nhất.

“Đi đến đâu người ta cũng hỏi chúng tôi đang đội cái gì trên đầu. Chính chiếc nón lá làm mọi người chủ động bắt chuyện và phá vỡ khoảng cách ban đầu”, anh nói.

Hành trình 16.000 km qua 18 quốc gia vì thế đã trở thành một trải nghiệm đa văn hóa với cặp đôi. Với Thibault, tiếp xúc với những thế giới quan khác biệt giúp anh hiểu thêm về nhân loại, anh thực hành triết học của Nietzsche về việc "trở thành chính mình". Mỗi chặng đường, từ những dải núi cao Thụy Sĩ đến sa mạc Iran, giúp cặp đôi bóc tách những lớp cũ kỹ trong tư duy để hình thành nên một bản thể mới mẻ và cởi mở hơn.

Đạp xe cùng vợ 16.000 km vẫn thấy cô đơn

Thibault thừa nhận rằng sự cô đơn vẫn là một phần không thể thiếu trong suốt một năm dù hành trình 16.000 km luôn có bóng dáng của bạn đời. Đó là những khoảnh khắc cả hai buộc phải đối diện với chính mình giữa thiên nhiên bao la hay những áp lực ngoại cảnh.

Trên những cung đường gồ ghề sỏi đá, dù là vợ chồng, mỗi người vẫn phải tự cầm lái chiếc xe của riêng mình. Không ai có thể đạp thay phần đường của đối phương, và những khó khăn thể chất đó buộc họ phải trải qua cảm giác độc hành ngay cả khi đang đi cạnh nhau.

"Có những khó khăn chúng ta buộc phải trải qua một cách tự thân bởi vì mỗi người đạp một chiếc xe. Ví dụ đi qua một cung đường gồ ghề sỏi đá, tôi đâu thể đạp thay vợ được và vợ tôi cũng không đạp thay tôi được", Thibault nhớ lại.

dap xe anh 6

Tác phẩm Từ nhà anh về nhà em - Hành trình 16.000 km đạp xe xuyên Âu - Á của cặp đôi Pháp - Việt được ra mắt vào tháng 5. Ảnh: NXB Kim Đồng.

Sự cô đơn còn nảy sinh từ những mâu thuẫn đời thường và khác biệt về gốc rễ văn hóa Pháp - Việt ngay trong nội tại mối quan hệ. Không tránh khỏi những lúc hai vợ chồng bất đồng quan điểm hay mất bình tĩnh, tạo ra những khoảng trống im lặng giữa hai người. Những lúc ấy, họ chọn cách đạp xe tách xa nhau một khoảng để tự trấn an và tìm lại sự điềm tĩnh trước khi tiếp tục đồng hành.

Đáng chú ý hơn là nỗi cô đơn giữa đám đông khi cả hai tiến vào những vùng đất có nền văn minh hoàn toàn khác biệt. Dù đứng giữa sự tò mò của hàng trăm người địa phương, cặp đôi đôi khi vẫn cảm thấy lạc lõng vì không thể thấu hiểu trọn vẹn những gì đang diễn ra xung quanh mình.

"Chúng tôi có thể lạc giữa một đám đông hàng trăm người nhưng vẫn cảm thấy cô đơn vì không hiểu họ đang làm cái gì cả. Chúng tôi bị lạ lẫm trong chính văn hóa của địa phương đó và đó cũng là một sự cô đơn", anh tâm sự.

Thibault cho rằng những khoảnh khắc đơn lẻ này là cần thiết để mỗi người tự khám phá bản thân và học cách thực hành triết học ngay trên đường đi. Nó giúp họ trân trọng sự hiện diện của người bạn đồng hành và hiểu rằng để đi cùng nhau 16.000 km, mỗi cá nhân cần phải học cách bước đi vững vàng trong chính thế giới nội tâm của mình.

TheoZnews.vn

53 năm phát hiện Sâm Ngọc Linh: "Quốc bảo" vẫn còn lắm gian nan

53 năm phát hiện Sâm Ngọc Linh: "Quốc bảo" vẫn còn lắm gian nan

  - Cuộc hội thảo khoa học được tổ chức bởi Sở Khoa học Công nghệ Quảng Ngãi, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Viện Kiểm nghiệm thuốc TP.HCM vào cuối tháng 3-2026 nhân kỷ niệm 53 năm ngày tìm thấy cây Sâm Ngọc Linh gợi ra rất nhiều suy tư.


Cuộc hội thảo về sản phẩm "quốc bảo" này, có sự đồng hành của Công Ty Cổ Phần Vingin (Sâm Ngọc Linh K5), diễn ra trong bối cảnh sâm Ngọc Linh đang rớt giá chưa từng có trên thị trường, khi giảm khoảng 50% so với 2-3 năm trước (loại 10 củ/kg còn khoảng 135 triệu đồng/kg, trong khi 2-3 năm trước giá là trên 250 triệu đồng/kg). 

Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Minh Đức, người có gần nửa thế kỷ nghiên cứu sâm Ngọc Linh, luôn khẳng định sâm Ngọc Linh chỉ thật sự trở thành sản phẩm quốc gia (được Chính phủ phê duyệt là sản phẩm quốc gia vào tháng 6-2017) khi nào nó không còn nằm ở chót vót trên cao, không còn chỉ là sản phẩm dành cho người giàu. 

Tuy nhiên, trước diễn biến sâm Ngọc Linh rớt giá trên thị trường như hiện nay, ông Đức lại không vui trọn vẹn.

sâm ngọc linh - Ảnh 1.

Ngày 19-3-2026, dược sĩ Đào Kim Long năm nay 86 tuổi (áo nâu, giữa) được mời về khánh thành tấm bia đặt ngay tọa độ mà ông tìm thấy cây sâm Ngọc Linh vào lúc 9g sáng ngày 19-3-1973. Ảnh: SNL K5

Rớt giá bất thường

Phát biểu tại nhiều hội thảo về sâm Ngọc Linh, ông luôn cho rằng loài sâm quý này của Việt Nam chỉ có thể là "quốc bảo" khi nào nó rẻ như nhân sâm Hàn Quốc, Trung Quốc. Vậy tại sao bây giờ nó đang rẻ hơn 2-3 năm trước đến khoảng 50% thì ông lại không vui?

Tôi băn khoăn là vì đây là một sự rớt giá bất thường. Chúng ta hãy lấy câu chuyện nhân sâm của Hàn Quốc để soi chiếu. Thuở xa xưa, nhân sâm là sản phẩm dành cho người giàu có, quyền thế. 

Nhưng, nhờ chính sách đúng đắn, mạnh mẽ của chính phủ Hàn Quốc từ thập niên 1950-1960, nhân sâm đã được nghiên cứu, mở rộng vùng trồng, giúp nguồn cung dồi dào, làm ra lượng lớn sản phẩm để phục vụ quảng đại quần chúng.

Ngay như chúng ta ngồi tại Việt Nam, giờ đây mua nhân sâm tươi Hàn Quốc loại 1 giao tới tận nhà, chất lượng đảm bảo cũng chỉ có vài triệu đồng/kg. Trong khi đó, diễn biến sâm Ngọc Linh rớt giá như hiện nay đâu phải do nguồn cung dồi dào, do vùng trồng được mở rộng. 

Cây sâm Ngọc Linh vẫn loanh quanh trồng ở núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Quảng Ngãi (Kontum trước đây), Đà Nẵng (Quảng Nam cũ) với diện tích tăng dần trong những năm gần đây nhưng không tức thời tạo ra sản phẩm, tỉ lệ hao hụt trong quá trình trồng do sự đỏng đảnh của cây, do thời tiết… vẫn chưa cải thiện nhiều.

Các doanh nghiệp, nhà quản lý, người trồng sâm Ngọc Linh nêu ra những lý do khiến sâm Ngọc Linh rớt giá như nạn hàng giả ngày càng nghiêm trọng... theo ông còn lý do nào khác không?

- Đúng là câu chuyện hàng giả ngày càng nghiêm trọng. Tôi trao đổi với các anh quản lý thị trường ở Kontum đã mắt thấy tai nghe những vụ sâm Lai Châu có xuất xứ từ Trung Quốc được vận chuyển vào Kontum để đội lốt sâm Ngọc Linh. 

Nên nhớ sâm Lai Châu chất lượng cao trồng tại Việt Nam có giá khoảng 30 triệu đồng/kg, còn trồng tại Vân Nam (Trung Quốc) khi vào mùa chỉ có giá hơn 1 triệu đồng/kg, thậm chí rẻ hơn. Loại này nhập tiểu ngạch vào Việt Nam, chở về Kontum, Quảng Nam được rao bán dưới tên sâm Ngọc Linh hơn 100 triệu đồng/kg. 

Nạn sâm Ngọc Linh giả hoành hành khiến niềm tin người tiêu dùng giảm sút. Chỉ một tuần trước khi tổ chức hội thảo khoa học kỉ niệm 53 năm ngày tìm ra cây sâm Ngọc Linh, có một người dự định mua một lô sâm trị giá hàng trăm triệu đã mang mẫu đến nhờ tôi kiểm nghiệm xem có đúng sâm Ngọc Linh hay không, kết quả là không phải.

Tuy nhiên, có một diễn biến mới trong việc gom sâm Ngọc Linh, sâm Lai Châu, sâm Langbiang và sâm Puxailailen vào chung "mái nhà" sâm Việt Nam. Theo tôi, chúng ta cần bàn luận, cân nhắc kỹ hơn.

Ông có thể nói rõ hơn?

- Nói cho dễ hiểu, sâm Ngọc Linh là một loài cây đặc hữu của Việt Nam. Phải nói rằng đây là một món quà quý của thiên nhiên ban tặng cho Việt Nam chúng ta. 

Sâm thường chỉ có ở xứ lạnh, vậy mà ở xứ nhiệt đới như Việt Nam bỗng dưng có loài sâm Ngọc Linh là một điều vô cùng độc đáo và thú vị. Khi mới phát hiện, sâm Ngọc Linh là loài sâm Panax mọc tự nhiên ở gần xích đạo nhất (vĩ tuyến 15).

Trong khi đó, sâm Lai Châu đâu chỉ có ở Việt Nam. Năm 2003, Trung Quốc đã công bố khoa học, trước cả Việt Nam về loài sâm này. 

Và họ đã có bước đi rất dài trong việc phát triển nó. Tại Vân Nam, vùng đã có kinh nghiệm trồng Tam thất, việc trồng sâm Lai Châu rất phát triển, nhờ đó, khi vào mùa thu hoạch, loài sâm này có giá chỉ hơn 1 triệu đồng/kg.

Quan điểm của tôi là sâm nào cũng nên được trân trọng, nhưng phải rõ ràng. Nên thận trọng cân nhắc khi đưa sâm Lai Châu (Trung Quốc gọi là dã tam thất, tức tam thất hoang) vào chung "mái nhà" sâm Việt Nam với sâm Ngọc Linh và sâm Liangbiang, vốn là sâm đặc hữu của nước ta. 

Cái mà người ta cũng có, thậm chí có trước mình (căn cứ công bố khoa học), phát triển hơn mình về mọi mặt thì không nên gọi là sâm Việt Nam, nhất là trong các tài liệu pháp lý (Dược điển Việt Nam, quyết định công nhận sản phẩm quốc gia).

Sâm Lai Châu có hình thức dạng giống sâm Ngọc Linh, thành phần hóa học tuy tương tự nhưng vẫn có những khác biệt có thể phân biệt được về mặt khoa học. Đặc biệt, khác biệt lớn nhất là giá trị trên thương trường.

Nhập một sản phẩm chỉ vài triệu đồng vào chung với sản phẩm có giá hàng trăm triệu, mà chúng lại khá giống nhau về hình dạng thì làm sao ngăn được sự nhầm lẫn và nạn hàng giả ngày càng phát triển.

Nghiên cứu khoa học còn nhiều khó khăn

Gặp gỡ những người quan tâm đặc biệt, có hoạt động liên quan đến sâm Ngọc Linh, tôi nghe nhiều về hai chữ "niềm tin". Nghĩa là người tiêu dùng ở Việt Nam chưa có niềm tin đủ lớn về sâm Ngọc Linh, hoặc có rồi cũng đôi lúc lung lay. Ông nghĩ do đâu?

- Nhiều người đều biết sâm tốt cho sức khỏe, đặc biệt người lớn tuổi và người bệnh. "Sâm, nhung, quế, phụ" là 4 vị thuốc bổ hàng đầu của y học cổ truyền. Nhưng về phương diện y học, sâm tuy tốt nhưng không phải là thuốc vạn năng chữa mọi bệnh tật, kể cả ung thư như bị thổi phồng. 

Sâm Việt Nam cũng vậy. Việc quảng bá các sản phẩm sâm quá mức, không kiểm soát, trái với thực tế... có thể dẫn đến suy giảm niềm tin. So với người Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, nơi già trẻ, lớn bé đều dùng sâm rộng rãi, người Việt Nam chưa có văn hóa dùng sâm. 

Vì vậy cần từng bước tạo văn hóa dùng sâm trong cộng đồng, bằng cách thông tin, quảng bá đúng thực chất. Thêm nữa, cần kiểm soát chất lượng sâm chặt chẽ, minh bạch … bằng các tiêu chuẩn khoa học chuẩn mực. Điều này cần vai trò của Nhà nước và các cơ quan chức năng.

Người ta cũng cho rằng có vai trò của giới khoa học nữa, ông nghĩ sao?

- Cũng có phần đúng thôi. Ngồi nhìn lại 53 năm đã qua, kể từ khi dược sĩ Đào Ngọc Long tìm ra cây sâm Ngọc Linh vào ngày 19-3-1973, thời kỳ nghiên cứu khoa học mạnh mẽ nhất chính là thời của thầy chúng tôi, cố TS Nguyễn Thới Nhâm.

Vào cái thời tưởng là khó khăn nhất về điều kiện kinh tế (sau khi đất nước thống nhất), thầy Nhâm đã tìm đủ mọi cách để kiếm tiền, kiếm cơ hội cho các học trò như anh Trần Công Luận (giáo sư, tiến sĩ, nguyên Giám đốc Trung tâm Sâm và Dược liệu TP.HCM) đi Ba Lan, tôi đi Nhật để học hỏi, nghiên cứu.

Năm 1992, thầy Nhâm đã tạo cơ hội, tin tưởng giao trách nhiệm cho tôi sang trường Đại học Hiroshima - nơi quy tụ các nhà khoa học hàng đầu thế giới về nghiên cứu sâm. Chính Hàn Quốc cũng đưa người sang đây để học tập, nghiên cứu về nhân sâm. 

Năm 1994 tôi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại đây với công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của sâm Ngọc Linh. Chính cái giai đoạn tưởng là khó khăn nhất thì lại là giai đoạn có nhiều nghiên cứu khoa học nhất về sâm Ngọc Linh.

53 năm tìm ra cây sâm Ngọc Linh, với ông thì đã có đến 45 năm gắn bó với nó. Nhìn lại, theo ông, chúng ta đi nhanh hay chậm trong việc phát triển một sản phẩm quý thành thương hiệu quốc gia như Chính phủ đã phê duyệt?

- Nói để an ủi nhau thì nhìn lại cái ngày cây sâm Ngọc Linh được người Xơ Đăng gọi là "thuốc giấu", rồi khi dược sĩ, lương y Đào Ngọc Long tìm ra nó đến bây giờ đã có thị trường, có vài chục sản phẩm…, thì rõ ràng là có phát triển. Nhưng là một nhà khoa học gắn bó với cây sâm, tôi cho là chậm.

Cây sâm Ngọc Linh chính thức được công bố tên khoa học là Panax vietnammensis Ha & Grushv vào năm 1985 tại Viện Thực vật Kamarov (Liên Xô cũ) bởi TS Hà Thị Dung và người thầy là ông I. V. Grushvistky tính đến nay đã hơn 40 năm. 40 năm ấy là khoảng thời gian để Hàn Quốc đưa nhân sâm trở thành thương hiệu quốc tế, mang lại giá trị lớn về kinh tế, văn hóa cho Hàn Quốc.

Tìm hiểu về sự phát triển của nhân sâm Hàn Quốc, tôi thấy chúng ta đi quá chậm. Vào thập niên 1960, Hàn Quốc còn nghèo, chính phủ tuy xác định phải phát triển nhân sâm nhưng không có tiền để chu cấp cho các nhà khoa học (cử đi Nhật học, đầu tw nghiên cứu khoa học).

Thế là họ thành lập viện nghiên cứu sâm và thuốc lá. Sâm thì lúc ấy không tạo ra tiền nhiều, nhưng thuốc lá thì có. Chính tiền từ thuốc lá đã tạo điều kiện cho nhân sâm phát triển một cách toàn diện, từ nông nghiệp đến dược phẩm. 

Nhờ đó, việc trồng sâm của họ đã phát triển mạnh về quy mô và năng suất, về lĩnh vực dược thì cũng có hàng trăm công trình nghiên cứu hiệu quả để tạo niềm tin cho người tiêu dùng. 

Sau khi sâm thành công rồi thì họ tách khỏi thuốc lá, tiến hành cổ phần hóa, hiện trở thành Tổng Công ty Sâm Hàn Quốc (Korean Ginseng Corporation, thường biết đến với tên gọi Công ty sâm Chính phủ) với doanh số sản phẩm từ sâm hàng tỉ đô la mỗi năm.■


53 năm phát hiện Sâm Ngọc Linh: "Quốc bảo" vẫn còn lắm gian nan - Ảnh 2.

GS. Nguyễn Minh Đức tại hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ về sâm Việt Nam năm 1994.

GS.TS. Nguyễn Minh Đức sinh năm 1955, tốt nghiệp khoa Dược (Đại học Y Dược TP.HCM) năm 1979, nguyên Trưởng Ban nghiên cứu Khoa học Đại học Y dược TP.HCM, nguyên Trưởng Khoa Dược Đại học Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Dược học Việt Nam.

Ông tham gia nhóm nghiên cứu sâm Ngọc Linh của cố PGS. TS. Nguyễn Thới Nhâm từ năm 1980.

Luận văn tiến sĩ viết bằng tiếng Anh của GS. Nguyễn Minh Đức, Chemical Study on the Saponin Composition of Vietnamese Gingseng, Panax vietnamensis Ha et Grushv (Nghiên cứu về thành phần Saponin của sâm Việt Nam, Panax vietnamensis Ha et Grushv), đã được bảo vệ thành công ở Viện Khoa học Dược, Trường Y, Đại học Hiroshima, Nhật Bản vào năm 1994.

TheoTuoiTre

Hai tháng làm người miền Tây của bố mẹ chồng Pháp

Hai tháng làm người miền Tây của bố mẹ chồng Pháp

 Vợ chồng ông Jean Francois ban đầu định ở Đồng Tháp ăn Tết với thông gia vài ngày nhưng cuộc sống nông dân miền Tây đã níu chân họ thêm hai tháng.